|
Đánh giá Tổng quan về những tác động sau hai năm gia nhập WTO đối với một số ngành hàng của Việt Nam
Thưa quý vị đại biểu
Cách đây 2 năm, chúng ta đã từng chứng kiến một sự kiện mà các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và của hàng trăm nước trên thế giới đều đồng loạt đưa tin - đó là việc Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Để có được thành công này trước hết phải khảng định chủ trương đúng đắn và các biện pháp thích hợp của Đảng và Chính phủ trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Một mặt, chúng ta tích cực và chủ động đổi mới từ trong nước, mặt khác chúng ta kiên trì và khôn khéo trong đàm phán, chủ động đưa ra các bản chào cam kết sao cho có thể mang lại nhiều cơ hội và hạn chế tối đa các thách thức do gia nhập WTO. Đồng thời đó cũng là công lao đóng góp rất lớn của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà doanh nghiệp , đặc biệt là các nhà đàm phán của ta trong việc tham mưu cho Đảng và Chính phủ để nhận diện rõ hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn về các thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức cũng như điểm mạnh và điểm yếu của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam khi phải thực hiện cam kết gia nhập WTO.
Đến nay, đã tròn 2 năm Việt nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, chúng ta đã và sẽ tiếp tục thực hiện các cam kết gia nhập WTO. So với quãng đường 11 năm kể từ ngày Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO đến khi là thành viên chính thức thì 2 năm còn là quá ngắn ngủi. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của 2 năm đầu tiên gia nhập lại có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc chúng ta nhìn nhận một cách thực chất hơn về những vấn đề mang tính đự đoán trước đây để có những giải pháp chiến lược và đối sách phù hợp hơn.
Với tinh thần đó, Bộ Công Thương đã phối hợp với Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “ Đánh giá tác động hội nhập sau hai năm gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam”. Để đi đến buổi hội thảo khoa học này, Bộ Công Thương, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã giao cho Văn phòng uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại tổ chức 11 hội thảo chuyên đề về những vấn đề vĩ mô và từng lĩnh vực cụ thể. Với các chủ đề khác nhau nhưng các Hội thảo đều xoay quanh các nội dung đánh giá về sự tác động của việc gia nhập WTO đối với tầm vỹ mô và các ngành hàng cụ thể. Do thời gian và các điều kiện có hạn, các hội thảo chuyên đề đã lựa chọn và chỉ tập trung vào một số ngành hàng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ như sau:
1. Ngành năng lượng Việt Nam trước những tác động sau hai năm gia nhập WTO và yêu cầu phát triển bền vững
2. Ngành cơ khí, luyện kim, đóng tàu Việt Nam sau hai năm gia nhập WTO và triển vọng phát triển.
3.Hội nhập kinh tế quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với ngành điện tử - viễn thông Việt Nam.
4. Phát triển ngành dệt may Việt Nam sau hai năm gia nhập WTO và những giải pháp để tăng tốc.
5. Đánh giá tác động hội nhập sau hai năm gia nhập WTO đối với ngành chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ.
6. Phát triển bền vững sản xuất kinh doanh thuỷ sản tầm nhìn đến năm 2020.
7. Đánh giá tác động hai năm gia nhập WTO đối với ngành cà phê, ca cao, hồ tiêu, hạt điều.
8. Phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
9. Đổi mới và phát triển Ngân hàng Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
10. Vai trò và những đóng góp tích cực của ngành Bảo hiểm Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
11. Tác động hội nhập sau 2 năm gia nhập WTO đối với thị trường bất động sản và vật liệu xây dựng của Việt nam.
Trong số 11 hội thảo chuyên đề đã đề cập ở trên, Ban tổ chức chúng tôi đã nhận được 121 bài tham luận của các tác giả từ nhiều cơ quan khác nhau như từ các Viện nghiên cứu, Trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước, các Hiệp hội và các doanh nghiệp. Bình quân mỗi hội thảo có trên 10 bài tham luận trong đó có hội thảo có nhiều bài tham luận nhất là 16 bài. Điều đó chứng tỏ sự quan tâm rất lớn của các quý vị tới chủ đề hội thảo này. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của cuộc Hội thảo hôm nay, Ban tổ chức chúng tôi không thể đăng lại toàn bộ các bài tham luận mà chỉ tổng quan chung về hội thảo theo từng ngành hàng và giới thiệu kèm theo một số bài viết được nhiều người quan tâm. Đồng thời, trong khuôn khổ của một đề dẫn Hội thảo chúng tôi chỉ tóm tắt giới thiệu một số điểm chính đã được đề cập trong các Hội thảo chuyên đề và gợi ý một số vấn đề cần tập trung thảo luận tại hội thảo này.
1. Về các tác động tích cực và kết quả mang lại:
Hầu hết các bài viết tham luận đều khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO năng lực sản xuất và kinh doanh của ngành đã tăng lên rõ rệt. Mặc dù trong thời gian qua, các biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu như sự thay đổi chóng mặt của giá năng lượng, lương thực và nhiều loại nguyên liệu khác, cùng với sự khủng hoảng của hệ thống tài chính toàn cầu đã và đang có ảnh hưởng lan toả đến hầu hết các nền kinh tế và thương mại thế giới. Các tác động này cũng là rất lớn đối với nền kinh tế và thương mại của Việt Nam vốn có quy mô nhỏ bé, đang phát triển ở trình độ thấp nhưng độ mở cao và đang phải mở cửa thị trường đề thực hiện cam kết gia nhập WTO. Tuy nhiên, hầu hết các ngành hàng của nước ta đều giữ được tốc độ tăng trưởng cao so với nhiều nước trong khu vực. Theo số liệu ước tính, năm 2008 tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 31% so với năm 2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá mức tăng còn 7%); kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩu đạt 79,9 tỷ USD, tăng 27,5% so với năm 2007. Nhìn chung, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc các ngành hàng được đề cập trong hội thảo này đều tăng rõ rệt. Chẳng hạn, hàng điện tử và linh kiện máy tính đạt 2,7 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2007; hàng dệt may đạt 9,1 tỷ USD, tăng 17,5%; sản phẩm gỗ đạt 2,78 tỷ USD, tăng 15,6%; cà phê đạt 2,02 tỷ USD, tăng 5,8%; cao su đạt 1,6 tỷ USD, tăng 14,6%.

Để đạt được các kết quả trên, ngay sau khi gia nhập WTO, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 của Hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng khóa X về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO”. Tiếp đó, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương cũng đã ban hành các chương trình hành động của mình theo định hướng lớn đã được Ban chấp hành Trung ương Đảng đề ra. Như vậy, ta đã có bước chuẩn bị trong việc thực thi các cam kết để thực hiện đúng nguyên tắc “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”. Trong hai năm vừa qua, chúng ta đã tập trung hoàn thiện môi trường kinh doanh để thực hiện đúng các cam kết đa phương về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức. Nhìn chung, các thủ tục gia nhập và rút lui khỏi thị trường được chuẩn hóa và minh bạch hơn, quyền lợi của nhà đầu tư được đảm bảo bình đẳng hơn. Bên cạnh việc hoàn thiện môi trường kinh doanh trong nước, các nước thành viên của WTO cũng phải mở cửa thị trường và thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử, tạo thuận lợi cho thương mại của Việt nam. Điều đó đã tạo ra những cơ hội chủ yếu đối với các ngành hàng và doanh nghiệp Việt Nam như sau:
- Thị trường được mở rộng, hàng hoá của Việt nam có thể thâm nhập được thị trường các nước thành viên WTO một cách thuận lợi hơn nếu có năng lực cạnh tranh của ta cao hơn các đối thủ cạnh tranh. Nhìn chung, các loại hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam như dệt may, cà phê, cao su, thuỷ sản…đã có mặt ở hàng trăm nước trên thế giới. Các doanh nghiệp Việt nam có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn tín dụng, công nghệ hiện đại, các loại hình dịch vụ, vật tư, nguyên liệu và cơ hội xuất khẩu sản phẩm do thị trường được mở rộng và không bị phân biệt đối xử.
- Việt nam trở thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào một số ngành như điện tử tin học, dệt may, luyện và cán thép, cơ khí đóng tàu, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm…Các nhà đầu tư nước ngoài đã và sẽ tiếp tục mang công nghệ hiện đại, phương thức quản lý tiên tiến vào Việt nam, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành. Hiện nay đã có nhiều Tập đoàn và Công ty đa quốc gia lớn trên thế giới đã có mặt kinh doanh tại Việt Nam như TOYOTA, INTEL, Nescafe, HSBC…
- Môi trường kinh doanh trong nước đã được cải thiện theo hướng thuận lợi và minh bạch hơn. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính như cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế và giảm thiểu các giấy phép con đã có tác động tích cực đối với phát triển các doanh nghiệp mới ở hầu hết các ngành hàng. Việc phát triển hệ thống ngân hàng và bảo hiểm cũng như mở ra các kênh tài chính cạnh tranh đã và sẽ tạo cơ hội tiếp cận tài chính tốt và có tính cạnh tranh hơn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu, các doanh nghiệp thuộc các ngành ưu tiên như đóng tàu, phát triển năng lượng mới…
- Việc mở cửa thị trường nội địa, cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế đối với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đã tạo điều kiện cho nhiều hàng hóa đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước với mức giá hợp lý hơn, giúp cho các doanh nghiệp và hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ được cung cấp nguồn lực tốt hơn.
2. Về các tác động tiêu cực và những khó khăn
Việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO vừa mang lại các cơ hội, có tác động tích cực đồng thời vừa đi kèm với các tác động tiêu cực và các khó khăn do sự cạnh tranh tăng lên. Nhìn chung, các bài viết tham luận đa chỉ ra những thách thức đối với các ngành hàng và doanh nghiệp Việt Nam kể từ sau khi gia nhập WTO, bao gồm các nội dung sau đây:
- Việc mở cửa thị trường dẫn đến cạnh tranh tăng lên, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn phải cạnh tranh cả trên thị trường thế giới. Theo cam kết gia nhập WTO, nhiều khoản trợ cấp hoặc có tính chất trợ cấp của Chính phủ cho một số ngành trước đây buộc phải bãi bỏ. Chẳng hạn, các ưu đổi về vốn, về tín dụng, các khoản hỗ trợ lãi suất để phát triển sản xuất kinh doanh đối với ngành dệt may, ưu đại thuế theo tỷ lệ nội địa hoá đối với ngành cơ khí, thưởng xuất khẩu theo thành tích xuất khẩu đối với thị trường mới và mặt hàng mới … đã phải bãi bỏ ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
- Quy mô của doanh nghiệp chủ yếu là vừa và nhỏ, năng lực tài chính yếu kém, kỹ năng và kiến thức chuyên sâu về quản lý trong môi trường cạnh tranh quốc tế còn có hạn, thiếu sự liên kết và chỉ tham gia được vào các khâu có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với hầu hết các ngành hàng. Mặc dù nhiều ngành hàng chúng ta đứng thứ hạng cao trong xuất khẩu như tiêu, điều, gạo, cà phê, cao su, hàng dệt may…nhưng do chúng ta chưa tham gia được vào các khâu có giá trị gia tăng cao, buộc phải lệ thuộc vào các trung gian thương mại nước ngoài. Năng lực nghiên cứu và thiết kế, khả năng đổi mới công nghệ của hầu hết các doanh nghiệp còn rất hạn chế, lực lượng lao động có trình độ cao không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển.

Ông Lê Danh Vĩnh (Ảnh vietnam-wto.vn)
- Các doanh nghiệp phải đối mặt với các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, tuân thủ các quy định về nhãn mác và xuất xứ hàng hoá, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù các hàng rào phi thuế quan được cắt giảm đối với một số mặt hàng và một số thị trường như hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa kỳ và EU…nhưng chúng ta vẫn phải đối mặt với các hàng rào kỹ thuật mới ngày càng tinh vi hơn theo các quy định riêng của một số nước. Các mặt hàng thuỷ sản và nông sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn bị cản trở bởi các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe hơn. Các mặt hàng công nghiệp chế biến và cơ khí luôn phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá như dệt may, giày dép, xe đạp, nan hoa, lò xo…
- Thách thức lớn đối với hầu hết các ngành hàng còn là ở chỗ sự phát triển của một số ngành thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, ngành điện chưa phát triển kịp so với yêu cầu tiêu thụ khiến cho tình trạng cúp điện là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, ngành điện lại đang phải đối mặt với các thách thức như làm thế nào huy động được đủ vốn cho đầu tư phát triển, hiệu suất của phát điện, chuyển tải và phân phối điện, đổi mới cơ chế quản lý giá điện sao cho vừa thu hút, khuyến khích đầu tư vào ngành điện , phát triển được các nguồn năng lượng mới và vừa đảm bảo lợi ích của bên mua điện. Các ngành giao thông, các lĩnh vực dịch vụ công… của Việt Nam cũng chưa phát triển khiến cho các doanh nghiệp phải trả giá dịch vụ cao hơn, làm giảm năng lực cạnh tranh.
- Một trong những thách thức đối với hầu hết các ngành hàng là chúng ta phải xử lý vấn đề rất khó khăn và luôn chứa đựng mâu thuẫn giữa một bên là mở cửa, giảm thuế để hạ giá thành đầu vào cho sản xuất và để cho người tiêu dùng được tiếp cận với hàng hoá giá rẻ. Phần lớn các ngành hàng được đề cập trong tài liệu hội thảo này đều vừa được sản xuất trong nứớc lại vừa nhập khẩu. Với chủ trương bảo hộ một số ngành, chúng ta đang thực hiện chính sách thuế nhập khẩu cao đối với sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh và thuế nhập khẩu thấp hơn đối với nguyên liệu và linh kiện/chi tiết rời để khuyến khích sản xuất và lắp ráp trong nước. Tuy nhiên, nhiều ngành sản xuất không tranh thủ cơ hội này để phát triển sản xuất và cải tiến công nghệ mà chỉ trông chờ vào chính sách bảo hộ, vì vậy khi thực hiện cam kết gia nhập WTO thì những hàng hoá này được sản xuất ra luôn có giá cao hơn so với đối thủ cạnh tranh, khó tiêu thụ ở cả thị trường trong và ngoài nước.
3. Một số đề xuất về giải pháp để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức
Có nhiều đề xuất khác nhau về các giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức được đưa ra trong các bài viết hội thảo. Các đề xuất đều tập trung vào 5 nhóm giải pháp chủ yếu như sau:
Một là, để có thể phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh thực thi các cam kết gia nhập WTO các ngành hàng và mỗi doanh nghiệp phải chủ động xây dựng và thực thi chiến lược đa dạng hoá thị trường. Bên cạnh việc tập trung vào các thị trường và sản phẩm chủ lực cần đa dạng hoá thị trường và mặt hàng để có thể chủ động phòng ngừa các biến động thường xuyên của thị trường.
.jpg)
Hai là, trong điều kiện hội nhập, các ngành hàng và các doanh nghiệp phải thay đổi quan điểm và cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh theo mô hình khép kín sang mô hình chuỗi giá trị. Tức là chuyển từ mô hình doanh nghiệp làm tất cả các công đoạn của chuỗi giá trị gia tăng sang các khâu có giá trị gia tăng cao, đồng thời cần chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu đối với ngành hàng.
Ba là, tăng cường hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu cho doanh nghiệp và nh•n hiệu sản phẩm để nâng cao giá trị gia tăng ở phần mềm của sản phẩm hàng hoá. Nhiều mặt hàng nông sản như cà phê, hồ tiêu, gạo và thuỷ sản còn xuất khẩu ở dạng thô, hàng dệt may chủ yếu là hàng gia công nên không có thương hiệu ở trong hệ thống phân phối của nước ngoài. Việc không có thương hiệu dẫn tới giá bán thấp, nhưng việc để có được thương hiệu và duy trì được hình ảnh tốt đẹp đối với người mua buộc chúng ta phải tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế về chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định về bảo vệ môi trường.
- Bốn là: nâng cao vai trò và năng lực hoạt động của các Hiệp hội nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu ngày càng cao và nhiệm vụ ngày càng lớn . Hiệp hội ngành hàng phải có đủ điều kiện và năng lực để đại diện cho các Hội viên trong các quan hệ trong nước và quốc tế, cung cấp thông tin thị trường và xúc tiến thương mại, tham gia giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho cơ quan quản lý nhà nước về những vấn đề chính sách có liên quan đến ngành hàng.
- Năm là, cần xây dựng chuẩn mực văn hoá kinh doanh trong cộng đồng doanh nghiệp, trong đó vừa thân thiện với cộng đồng và vừa thân thiện với môi trường là 2 nội dung cốt lõi. Nếu văn hoá kinh doanh của các doanh nghiệp và doanh nhân được nâng cao sẽ tăng được sức mạnh cộng đồng các doanh nghiệp và doanh nhân, hạn chế được tình trạng chụp giật trong kinh doanh và sẽ hạn chế được tình trạng bị báo chí nước ngoài đưa ra các hình ảnh xấu về một số hàng hoá của Việt Nam như thời gian qua.
Bên cạnh các đề xuất về giải pháp, nhiều bài viết còn đưa ra các kiến nghị chung và kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước nhằm phát triển nhanh và bền vững đối với mỗi ngành hàng trong bối cảnh gia nhập WTO. Các kiến nghị đối với Nhà nước được tập trung vào công tác quy hoạch, hoàn thiện chính sách và thể chế kinh doanh theo hướng minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các doanh nghiệp cũng như ngành hàng trong khuôn khổ các biện pháp hỗ trợ cho phép của WTO. Kiến nghị về việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng được nhiều bài viết đề cập và nhấn mạnh.
4. Một số gợi ý của Ban Tổ chức Hội thảo về một số vấn đề cần tập trung thảo luận:
Trong số 121 bài viết hội thảo với các cách thức tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đề cập một cách khá toàn diện, hết sức sâu sắc và cụ thể về tác động của 2 năm gia nhập WTO đến các ngành hàng, chỉ ra các giải pháp cần thiết phải thực hiện nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức. Những nội dung cụ thể cho từng ngành hàng đ• được tổng hợp trong 11 báo cáo tổng quan về từng ngành hàng và được đăng trong kỷ yếu Hội thảo.
Tại Hội thảo này, Ban Tổ chức chúng tôi xin có một số gợi ý về một số vấn đề để các đại biểu tập trung thảo luận như sau:
1/ Đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của việc tiếp tục thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đặc biệt là việc mở cửa thị trường bán lẻ vào 1/1/2009 sẽ có những tác động như thế nào đối với các ngành hàng và đề xuất giải pháp cụ thể.
2/ Bên cạnh việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO, chúng ta còn có quyền lợi và nghĩa vụ thực hiện các cam kết song phương. Vì vậy, cần có sự thảo luận để tìm ra các cam kết song phương hoặc đa phương có lợi nhất để tận dụng và thách thức trực tiếp để chủ động vượt qua.
3/ Vòng đàm phán Doha về đẩy nhanh tự do hoá thương mại vẫn đang trong tình trạng bế tắc, xu hướng các nước vẫn tiếp tục sử dụng các hàng rào phi thuế ngày một tinh vi và khắt khe hơn. Chúng ta phải có những giải pháp gì để chủ động đối phó, vượt qua được rào cản nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế nhập siêu.
4/ Theo cam kết gia nhập WTO, thuế nhập khẩu một số mặt hàng sẽ phải tiếp tục giảm theo lộ trình, các biện pháp hỗ trợ không phù hợp quy định WTO cũng sẽ phải dỡ bỏ. Cần phải thay đổi các chính sách hỗ trợ thế nào để chúng ta vẫn có thể tiếp tục hỗ trợ được cho một số mặt hàng nông sản và hàng công nghiệp để đạt được các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.
5/ Khủng hoảng tài chính toàn cầu đang tiếp tục lan rộng, nhu cầu thị trường thế giới sẽ bị thu hẹp do khả năng thanh toán của các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như Hoa kỳ, EU. Chúng ta cần đưa ra các giải pháp gì để hạn chế tối đa được các tác động tiêu cực, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá?
Qua Hội thảo này hy vọng rằng bằng tri thức, kinh nghiệm và khát vọng góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước tăng trưởng nhanh và bền vững, các đại biểu sẽ thẳng thắn trao đổi về những suy nghĩ của mình trong việc đánh giá tác động của gia nhập WTO để góp thêm tiếng nói với các cơ quan của Đảng và Nhà nước, với Chính phủ và Bộ Công Thương cũng như các bộ ngành có liên quan nhằm hoàn thiện cơ chế và chính sách, thực hiện thành công chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
|