Phát biểu của Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú, Tổng Thư ký UBQG về HTKTQT, Trưởng Ban chỉ đạo Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật sau khi Việt Nam gia nhập WTO (B-WTO)
Tổng kết các kết quả chính của Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật sau khi
Việt Nam gia nhập WTO Giai đoạn I và những nội dung ưu tiên dự kiến sẽ triển khai trong Giai đoạn II
Kính thưa các quý vị đại biểu!

Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) đã đánh dấu một b¬ước phát triển có ý nghĩa trọng đại trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của n¬ước ta. Là một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, việc gia nhập WTO luôn song hành cơ hội và thách thức, quyền lợi và nghĩa vụ. Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam nằm chính trong quá trình thực thi các cam kết gia nhập WTO và việc phải thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức này.
Sau khi gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam đã chủ trương xây dựng một chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để triển khai chương trình này, Chính phủ Việt Nam đã đề nghị cộng đồng các nhà tài trợ hỗ trợ tài chính để xây dựng và thực hiện các hoạt động cụ thể của chương trình. Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO về “Duy trì, tăng trưởng bền vững và xóa đói giảm nghèo thông qua việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO” (sau đây gọi là Chương trình B-WTO) do Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và cơ quan phát triển quốc tế Australia (AusAID) tài trợ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với thời gian thực hiện dự kiến là 6 năm. Chương trình B-WTO được triển khai theo hai giai đoạn: Giai đoạn I từ năm 2007 đến năm 2008 và Giai đoạn II từ năm 2009 đến năm 2012.
Giai đoạn I do Văn phòng Ban chỉ đạo Chương trình HTKT hậu gia nhập WTO đặt tại Văn phòng Chính phủ triển khai. Tại công văn số 1345/VPCP-TCCB ngày 03/3/2008 và Quyết định 591/QĐ-TTg ngày 21/5/2008, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định kiện toàn Ban chỉ đạo Chương trình HTKT hậu gia nhập WTO và chuyển Ban chỉ đạo và Văn phòng Ban chỉ đạo Chương trình HTKT hậu gia nhập WTO từ Văn phòng Chính phủ về Bộ Công Thương.
Giai đoạn I của Chương trình B-WTO đã tập trung cụ thể hóa Chương trình hành động của Chính phủ và hỗ trợ xây dựng Chương trình hành động của các Bộ, ngành, địa phương và thử nghiệm cơ chế cung cấp tài chính thông qua Quỹ tín thác đa tài trợ nhằm huy động sự hỗ trợ kỹ thuật của nhiều nhà tài trợ để thực thi Chương trinh hành động này. Trong Giai đoạn I đã có 10 Bộ, ngành và 20 địa phương nhận được sự hỗ trợ từ Giai đoạn I của Chương trình HTKT hậu gia nhập WTO.
Trong số rất nhiều hoạt động đã triển khai trong Giai đoạn I, đặc biệt nhất là việc đã hoàn thành các Báo cáo kết quả đầu ra quan trọng được coi là cơ sở cho việc xây dựng thiết kế nội dung và cách thức hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong Giai đoạn II của Chương trình B-WTO.
Báo cáo thứ nhất là “Tổng hợp Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính phủ và Danh mục các hoạt động, công việc trọng tâm cần triển khai thực hiện nhằm giải quyết những khó khăn, hạn chế trong quá trình triển khai Chương trình hành động của Chính phủ”.
Báo cáo này đã chỉ ra được những mặt tích cực chủ yếu trong Chương trình hành động của các Bộ, ngành và địa phương ví dụ như:
- Việc xây dựng Chương trình hành động của các Bộ, ngành, địa phương đã được triển khai nghiêm túc. Tinh thần và nội dung cơ bản của Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP đã được quán triệt và cơ bản thể hiện được trong Chương trình hành động của các Bộ, ngành và địa phương.
- Những nội dung về yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong Chương trình hành động của Chính phủ đã được nhiều Bộ, ngành và địa phương cụ thể hoá thông qua các hoạt động, công việc rõ ràng, bám sát đặc điểm và vai trò, vị trí của Bộ, ngành, và địa phương mình.
- Các Bộ, ngành và địa phương nhìn chung đều đã có sự nỗ lực, cố gắng trong việc triển khai thực hiện những nội dung, nhiệm vụ đặt ra trong Chương trình hành động của mình, nhằm tạo ra sự chuyển biến toàn diện đối với tất cả các mặt hoạt động, các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước.
- Việc triển khai thực hiện những nội dung đề ra trong Chương trình hành động của các Bộ, ngành, địa phương đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt hoạt động được đề ra trong Chương trình hành động của Chính phủ. Có nhiều lĩnh vực, nhiều nhóm nội dung công tác lớn đã được thực hiện, triển khai và đạt sự chuyển biến mạnh mẽ trên thực tế, ví dụ như: thông tin tuyên truyền, phổ biến về WTO, xây dựng pháp luật, thể chế, cải cách hành chính...
- Vai trò dẫn dắt, chỉ đạo của Chính phủ trong việc triển khai các nhiệm vụ đề ra trong Chương trình hành động chung là rất rõ rệt, tạo ra sự thống nhất, gắn kết cần thiết trong việc triển khai công việc của các Bộ, ngành và địa phương. Đối với từng lĩnh vực, từng mặt công tác, Chính phủ đã thường xuyên có chỉ đạo kịp thời các Bộ, ngành và địa phương để triển khai thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và quyết liệt những nội dung công việc đề ra trong Chương trình hành động.
- Nhiều Bộ, ngành và địa phương đã có sự chủ động, sáng tạo trong việc cụ thể hoá và triển khai những nhiệm vụ được đặt ra trong Chương trình hành động của Chính phủ, tạo ra kết quả và hiệu quả tốt trong việc thực hiện những nội dung công việc trong phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương mình. Một số Bộ, ngành, địa phương đã có sự chuẩn bị tốt và sớm triển khai thực hiện một số nội dung công việc bảo đảm tiến độ, thậm chí vượt tiến độ đề ra.
Bên cạnh những mặt tích cực kể trên, Chương trình hành động của các Bộ, ngành và địa phương cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém đáng chú ý là:
- Tiến độ xây dựng và ban hành các Chương trình hành động của các Bộ, ngành, địa phương còn khá chậm. Đến thời điểm này, vẫn còn một số Bộ, ngành và địa phương vẫn chưa ban hành Chương trình hành động của mình. Đây là yếu tố rất cơ bản ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra trong Chương trình hành động của Chính phủ.
- Chất lượng nội dung của các Chương trình hành động: Nội dung còn khá sơ sài hoặc chưa bám sát những nội dung, yêu cầu đặt ra trong Chương trình hành động của Chính phủ. Hầu hết các Chương trình hành động của các Bộ, ngành, địa phương đều không đề cập, hoặc chỉ đề cập ở mức chung chung, đến nguồn lực cần thiết để bảo đảm cho việc triển khai thực hiện những nhiệm vụ, công việc đề ra (Đây là yếu tố rất cơ bản ảnh hưởng tới khả năng triển khai và hoàn thành những nội dung của Chương trình hành động trên thực tế). Thứ tự ưu tiên đối với các vấn đề trong Chương trình hành động của các Bộ, ngành, địa phương chưa được thể hiện một cách rõ ràng và thực chất. Chủ yếu các công việc mới chỉ được xác định ưu tiên về mặt thời gian mà chưa thể hiện được những ưu tiên có tính chiến lược trong việc triển khai một cách đồng bộ những nội dung của Chương trình hành động. Các vấn đề có tính chất liên ngành, liên vùng, đặc biệt là đối với những vấn đề liên vùng của các địa phương, chưa được xem xét, xử lý tốt. Trong đó phổ biến nhất là những vấn đề về chiến lược, qui hoạch phát triển của địa phương; bảo đảm hiệu quả đầu tư; phát triển cơ sở hạ tầng; bảo vệ môi trường sinh thái... chưa được các địa phương thể hiện được những nội dung cần thiết về phối hợp liên vùng trong Chương trình hành động của mình (Đây có thể sẽ là một trong những vấn đề trọng tâm cần được xử lý trong thời gian tới khi xem xét, đánh giá và điều chỉnh Chương trình hành động của các địa phương để bảo đảm đáp ứng được những yêu cầu đề ra theo mục tiêu chung của Chính phủ). Hầu hết các Chương trình hành động của các Bộ, ngành, địa phương không đề cập đến vai trò của các doanh nghiệp, của khu vực tư nhân, của các hiệp hội ngành nghề...
- Cách thức tổ chức triển khai thực hiện các Chương trình hành động: Thể chế và cơ chế theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động trong các Chương trình hành động hầu như không được đặt ra hoặc chỉ được đặt ra ở mức độ rất chung. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả triển khai các nội dung trong các Chương trình hành động.

- Việc triển khai thực hiện Chương trình hành động: nhìn chung sự chuyển biến trong những lĩnh vực, những nội dung được đặt ra trong Chương trình hành động của Chính phủ và của các Bộ, ngành, địa phương còn chậm, chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng triển khai thực hiện các nhiệm vụ đặt ra còn thấp. Tính đồng bộ, gắn kết trong những chuyển biến ở các lĩnh vực là chưa cao, đặc biệt là những vấn đề trong lĩnh vực nâng cao hiệu quả đầu tư, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, phát triển đồng bộ các yếu tố kinh tế thị trường... Khả năng nhận định, đánh giá và dự báo trước tình hình diễn biến thực tế để chủ động xử lý những vấn đề phát sinh còn nhiều hạn chế. Các vấn đề về xây dựng cơ chế nhận biết, cảnh báo sớm trong các lĩnh vực trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới nhìn chung còn yếu kém. Một số Bộ, ngành, địa phương còn lúng túng trong việc cụ thể hoá và triển khai thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trong Chương trình hành động của Chính phủ. Trong một số trường hợp, các Bộ, ngành, địa phương vẫn áp dụng một cách cứng nhắc và hình thức những vấn đề được đặt ra trong Chương trình hành động của Chính phủ mà không xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng để điều chỉnh cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm riêng của Bộ, ngành và địa phương mình.
Báo cáo quan trọng thứ hai của Giai đoạn I là: Báo cáo nghiên cứu về: “Thể chế thực hiện và giám sát Chương trình hành động của Chính phủ”. Báo cáo này do Nhóm Tư vấn cấp cao của Chương trình B-WTO thực hiện, đã nêu ra và kiến nghị những nội dung chính như sau:
- Các Chương trình hành động của Chính phủ còn thiếu một số cơ chế giám sát chặt chẽ để có thể thường xuyên kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện nhằm đảm bảo mục tiêu của Chương trình, do đó việc xây dựng một số cơ chế và bộ máy có đủ quyền lực để giám sát việc thực thi Chương trình hành động là hết sức quan trọng. Nhóm tư vấn cấp cao kiến nghị cơ chế và bộ máy giám sát được triển khai theo hướng nghiên cứu thành lập Ban chỉ đạo tinh gọn, có hiệu lực để chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chương trình hành động. Ít nhất, mỗi quý một lần Ban chỉ đạo báo cáo với Chính phủ tại cuộc họp thường kỳ về kết quả thực hiện quý trước của các Bộ, ngành và địa phương. Đồng thời nêu yêu cầu chỉ đạo thực hiện cho quý tiếp theo, và xây dựng cơ chế giám sát thực hiện một cách chặt chẽ. Làm như vậy tạo ra được khuôn mẫu về tổ chức thực hiện cho các Bộ ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố trong việc thực hiện chương trình của mình.
.jpg)
- Để việc tổ chức và giám sát thực hiện các Chương trình hành động có hiệu quả, nhất thiết phải thành lập hoặc giao cho một cơ quan có đủ năng lực và thẩm quyền triển khai thực hiện. Nhóm Tư vấn cấp cao đã kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ hai phương án tổ chức thể chế và đề nghị chọn lựa Phương án thực tế. Theo đó, việc tổ chức giám sát và thực hiện Chương trình hành động được hình thành trên cơ sở các tổ chức hiện có, không thành lập thêm Ban chỉ đạo WTO của Chính phủ, của các Bộ, ngành và địa phương. Phương án này dựa vào hệ thống tổ chức điều phối và phối hợp công tác hội nhập kinh tế quốc tế hiện có từ trung ương đến địa phương. Tổ chức hiện có là Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế đã được thành lập từ năm 1998, có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, nên giao cho Uỷ ban việc tổ chức, theo dõi và giám sát thực hiện các Chương trình hành động và các cam kết quốc tế, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện, đề ra và thực hiện cơ chế giám sát thực thi chương trình hành động.
- Kiện toàn các Ban hội nhập kinh tế quốc tế của các Bộ, ngành và địa phương, giao cho các Ban hội nhập chức năng theo dõi và giám sát thực thi các Chương trình hành động của Bộ, ngành và địa phương mình. Các Ban hội nhập kinh tế quốc tế của Bộ, ngành và địa phương có bộ phận chuyên trách và có kinh phí hoạt động để thực hiện nhiệm vụ theo dõi và giám sát thực hiện Chương trình hành động. Uỷ ban ban hành quy định về mối liên hệ giữa Uỷ ban với các Ban hội nhập kinh tế quốc tế của Bộ, ngành và địa phương, trong đó quan trọng nhất là thông tin hai chiều và xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong việc thực hiện các Chương trình hành động.
Trên cơ sở kết quả của các báo cáo đầu ra quan trọng nói trên và thực tiễn triển khai Giai đoạn I, Giai đoạn II Chương trình B-WTO sẽ được thực hiện từ năm 2009 đến 2012 với mục tiêu thực hiện là xây dựng các ưu tiên và chương trình công tác cho hai lĩnh vực hành động chính của Chương trình hành động của Chính phủ, được lựa chọn trên cơ sở, các ưu tiên thể hiện trong kết quả đầu ra của Giai đoạn I. Các lĩnh vực này phản ánh các ưu tiên trong những nghị quyết gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là:
- Tăng cường thể chế nền kinh tế thị trường; và
- Giải quyết các thức thức xã hội và kinh tế trong hội nhập tại khu vực nông thôn.
Trên cơ sở đó, Giai đoạn II ưu tiên tập trung vào 5 cấu phần dự kiến sẽ triển khai là:
- Cấu phần 1: Tăng cường thể chế nền kinh tế thị trường, giải quyết những vấn đề được Chính phủ xác định là ưu tiên để Việt Nam thoát khỏi địa vị nền kinh tế phi thị trường theo quan niệm của một số thành viên WTO hiện thời bao gồm: kiểm soát giá cả, chính sách lãi xuất, trợ cấp cho doanh nghiệp nhà nước, cải tổ doanh nghiệp nhà nước, quản lý và chính sách đất đai, ảnh hưởng của việc xã hội hoá dịch vụ công và chính sách cạnh tranh.
- Cấu phần 2: Giải quyết các hậu quả kinh tế và xã hội của hội nhập tại khu vực nông thôn, xử lý những thách thức do sự phát triển không gian không đồng đều và những ảnh hưởng của thay đổi mang lại cho khu vực nông thôn-các chương trình hỗ trợ ban đầu về phân tích chính sách liên quan đến công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, bao gồm đánh giá các phản hồi chính sách đối với các thay đổi kinh tế và xã hội gắn liền với cải cách chính sách đất đai được xây dựng trong cấu phần 1.
- Cấu phần 3: Hỗ trợ năng lực quản lý và điều phối hội nhập, nhằm vào các cơ cấu thể chế mà Chính phủ đặt ra để giám sát và điều phối quá trình thực hiện GAP, và ngoài những việc khác, hỗ trợ giám sát và đánh giá thực hiện GAP, tiếp tục điều chỉnh GAP, đánh giá các vấn đề xuyên suốt và các vấn đề nằm ngoài phạm vi trách nhiệm của từng bộ, và giải quyết các nhu cầu phát triển năng lực ưu tiên.

- Cấu phần 4: Hỗ trợ thực hiện kế hoạch hành động của địa phương, giúp một nhóm các tỉnh được lựa chọn trên cơ sở chất lượng kế hoạch hành động của tỉnh; tầm quan trọng của các thách thức liên quan đến hội nhập mà tỉnh phải đối mặt; và các cản trở về nguồn lực họ có thể tiếp cận để giải quyết các thách thức này.
- Cấu phần 5: Quản lý MDTF, bằng việc tài trợ cho một phạm vi các hỗ trợ cơ cấu thể chế quản lý Quĩ, bao gồm hợp đồng các chức năng kỹ thuật (như kiểm soát tài chính, thiết kế dự án…) và hỗ trợ cấp cao hơn đối với chức năng điều phối và đánh giá thông qua dịch vụ của Cố vấn Kỹ thuật Cao cấp dài hạn (ít nhất ở các giai đoạn thực hiện chương trình ban đầu). Cấu phần này cũng bao gồm dự trữ để phản hồi các yêu cầu ưu tiên cho các hoạt động mới được thoả thuận với nhà tài trợ, trên cơ sở đột xuất.
Cấu phần 1, 2 và 3 có khả năng hỗ trợ cho các bộ và cơ quan trung ương có các hoạt động trong kế hoạch hành động liên quan đến lĩnh vực trọng tâm được xác định, cấu phần 4 bước đầu nhằm vào nhóm các tỉnh lựa chọn để tìm hiểu phạm vi hỗ trợ hiệu quả vai trò của tỉnh trong việc giải quyết các thách thức hội nhập và thay đổi vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Nhìn lại hai năm thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ, hiện nay, các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương đã và đang tích cực triển khai các hoạt động nhằm nâng cao hiểu biết về WTO cho các cơ quan Chính phủ, các doanh nghiệp các tổ chức quần chúng. Chính phủ đánh giá rất cao vai trò và các hoạt động hỗ trợ của các nhà tài trợ trong lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, việc duy trì thành tựu tăng trưởng và giảm nghèo sau khi gia nhập WTO đang là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh sáng kiến của các nhà tài trợ, đặc biệt là DFID, AusAID và Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ tích cực cho Việt Nam thông qua Quỹ tín thác đa biên Hậu gia nhập WTO nhằm giúp Chính phủ thực hiện thành công Chương trình hành động ban hành kèm theo Nghị quyết 16. Trong khuôn khổ của Chương trình hỗ trợ kỹ thuật “Duy trì tăng trưởng bền vững và giảm nghèo thông qua việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO”
Thưa các quý vị đại biểu,
Mục tiêu lâu dài của Chương trình B-WTO là “Tăng cường năng lực để Việt Nam duy trì tăng trưởng vì người nghèo và bảo vệ thành quả giảm nghèo” và qua đó đạt được những mục tiêu đã đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010. Mục tiêu cụ thể của Chương trình B-WTO là “Tăng cường năng lực của Chính phủ trong quản lý hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu và chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" trong bối cảnh Việt Nam là thành viên WTO. Để đạt được các mục tiêu này, cần tăng cường năng lực cho các cơ quan hữu quan nhằm triển khai hiệu quả việc thực thi các cam kết gia nhập WTO và để điều chỉnh cơ chế chính sách nhằm tranh thủ tối đa cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO.
Các bài phát biểu khác
Phát biểu của Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú, Tổng Thư ký UBQG về HTKTQT
Bài phát biểu của Đ/c Lê Hữu Nghĩa - Uỷ viên BCH Trung ương Đảng - Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Bài phát biểu của PGS-TS. Lê Danh Vĩnh - Thứ trưởng Bộ Công thương, Trưởng Ban tổ chức