|
Kể từ khi Việt Nam tiến hành đường lối đổi mới kinh tế vào năm 1986, sau hơn 20 năm, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến chuyển quan trọng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khó khăn, nghèo đói, bắt đầu những bước phát triển vượt bậc trên mọi phương diện kinh tế, xã hội, thương mại và quan hệ quốc tế. Vị thế của Việt Nam không ngừng được củng cố, nâng cao và ngày càng vững mạnh. Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Việc gia nhập WTO đã tạo những tiền đề quan trọng cho nước ta tiếp tục phát triển và hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu. Sau 1 năm gia nhập WTO (11.1.2007 - 11.1.2008), tốc độ tăng trưởng GDP đã đạt cao hơn dự kiến, 8,48%. So với năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 đạt 574.046,8 tỷ đồng, tăng 17,1%, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 48, 56 tỷ USD, tăng 21,9%.
Việc mở cửa thị trường theo nghĩa vụ thành viên cũng khiến thị trường Việt Nam chịu tác động trực tiếp từ thị trường thế giới. Điều đó vừa là cơ hội vừa là thách thức. Vị thế Việt Nam tiếp tục được nâng lên trên trường quốc tế. Hội nhập đ• mở ra cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng sự tham gia của các thành phần vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Năm 2007 tổng vốn FDI đăng kí lên tới 20,3 tỉ USD, tăng gần gấp đôi so với 2006. Đầu tư khu vực dân doanh trong nước cũng tăng cao, là yếu tố quyết định thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm và bảo đảm tăng trưởng. Thị trường xuất khẩu được mở rộng. Các doanh nghiệp có cơ hội phát triển mối liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài để hình thành các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, tiếp thu chuyển giao công nghệ, nhanh chóng làm quen với “luật chơi” mới và tích luỹ kinh nghiệm. Mở cửa thị trường đồng nghĩa với việc vai trò và hoạt động của các doanh nghiệp có sự thay đổi căn bản. Doanh nghiệp trở thành động lực của nền kinh tế và trực tiếp đối đầu với các vấn đề của cạnh tranh quốc tế.
Hội nhập đặt ra một thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Lộ trình gia nhập hoàn toàn vào WTO đòi hỏi chúng ta phải cam kết mở cửa ngày càng sâu, rộng các lĩnh vực thương mại, dịch vụ; đang và sẽ tạo nên sự cạnh tranh ngày càng mãnh liệt trên thị trường Việt Nam. Trở thành thành viên của WTO, khi tất cả các quốc gia thành viên đều đã mở cửa thì năng lực cạnh tranh yếu của doanh nghiệp Việt Nam càng bộc lộ rõ khi “cọ sát” với các doanh nghiệp quốc tế. Các doanh nghiệp phải cạnh tranh trong khi cơ cấu kinh tế thế giới đã thay đổi nhanh, mạnh; kinh tế tri thức và dịch vụ mới đã phát triển rất nhanh trong khi các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường toàn cầu.
Trong bức tranh kinh tế sáng sủa của năm 2007, đã xuất hiện những mảng cần chú ý. Trước hết là lạm phát, rồi đến nhập siêu tăng cao. Năm 2007, mức tăng CPI tăng tới 12,63%; nhập khẩu lên tới 62,68 tỉ USD, nhập siêu 14,12 tỉ USD chiếm 29,% giá trị xuất khẩu, mức cao nhất trong 15 năm qua. Nhập siêu tăng do phải nhập khẩu hầu hết các vật tư, nhiên liệu cho sản xuất kể cả sản xuất hàng xuất khẩu. Sản phẩm thay thế nhập khẩu không cạnh tranh được, sản phẩm xuất khẩu phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu; công nghiệp phụ trợ không phát triển. Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam là rất thấp và chậm được nâng cao; nhất là đối với các ngành hàng nông sản, dịch vụ. Trong khi đó, yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm tăng lên đối với hàng nông sản, thủy sản; yêu cầu đổi mới cơ cấu sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh gay gắt hơn. Lao động trình độ cao thiếu hụt nghiêm trọng. Trình độ giáo dục đào tạo bất cập, gây hạn chế rất lớn đến khả năng đáp ứng các yêu cầu hội nhập nói chung và WTO nói riêng.
Tại Lễ kỷ niệm 01 năm Việt Nam gia nhập WTO, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm đã phát biểu “Một trong các thách thức lớn nhất là các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh quốc tế; nhất là sau khi hạ thấp hàng rào thuế quan, loại bỏ trợ cấp trái với quy định WTO. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải nỗ lực hết mình để cạnh tranh hiệu quả ngay trên thị trường trong nước và vươn ra khẳng định mình trên thị trường quốc tế”.
Vì vậy, để có thể tận dụng được cơ hội, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng được trang bị một vốn kiến thức toàn diện và nhận thức đầy đủ về bối cảnh kinh doanh toàn cầu và phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh phù hợp với những hoàn cảnh mới và vai trò mới của mình. Hai năm là một khoảng thời gian vừa đủ để các hiệp hội, các doanh nghiệp, địa phương, các Bộ, Ngành nhận thức đầy đủ hơn về các lợi thế cần phát huy, về các hạn chế cần phải vượt qua để phát triển.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X, ngày 5 tháng 2 năm 200, đã chỉ rõ thách thức chủ yếu của việc hội nhập kinh tế toàn cầu và việc tham gia WTO:
“Thứ nhất, nước ta phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. Các sản phẩm và doanh nghiệp của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ trên thị trường thế giới mà ngay trên thị trường trong nước”… “ Thứ tư, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta (bao gồm cán bộ quản lý nhà nước, quản trị kinh doanh và chuyên gia trong các lĩnh vực) còn thiếu và yếu về năng lực chuyên môn.
Thứ năm, cùng với những thách thức trong lĩnh vực kinh tế, quá trình hội nhập quốc tế đặt ra những thách thức lớn đối với chế độ chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và việc giữ vững định hướng XHCN, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái cho phát triển bền vững của đất nước.”
Nghị quyết Hội nghị BCH TƯ lần thứ 4 nêu rõ quan điểm chỉ đạo:
“Mọi cơ chế, chính sách phải nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, khả năng sáng tạo và phát huy mọi nguồn lực của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận cao trong toàn xã hội.
Phát huy tối đa nội lực … tạo thành sức mạnh quốc gia … chủ động, tích cực tạo ra và sử dụng có hiệu quả cao lợi thế so sánh của đất nước.”
Với yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của phát triển bền vững, với đặc điểm tình hình kinh tế Việt nam sau gần hai năm tham gia WTO có nhiều biến đổi, cần có những tổng kết, đánh giá thực tiễn, rút ra những vấn đề mang tính lí luận, khoa học; Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công thương dưới sự chỉ đạo trực tiếp và chủ trì của Lãnh đạo Bộ, sự phối hợp của các bộ, ban, ngành Trung ương, các địa phương, các Hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp và các đơn vị liên quan tổ chức Chương trình “Đánh giá tác động hội nhập sau hai năm gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam và tôn vinh các doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu”. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng. Qua các cuộc hội thảo được tổ chức theo hướng vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn cao; có sự tham gia đông đảo, nhiệt tình, chuyên sâu của các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí, các doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh trên thương trường thuộc các lĩnh vực kinh tế quan trọng của đất nước, chúng ta có thể tổng kết được các bài học, nhận biết được các xu hướng biến động, chuyển dịch, phát triển của từng lĩnh vực kinh tế, thị trường hàng hoá, dịch vụ nói riêng và của nền kinh tế nói chung …; và trên cơ sở đó áp dụng vào công tác quản lí, điều hành nền kinh tế đất nước, vào hoạt động sản xuất kinh doanh….
Chương trình bao gồm các cuộc hội thảo (dự kiến 10 - 15 cuộc, theo các chuyên đề, ngành hàng cụ thể và một cuộc hội thảo đánh giá chung), các chương trình truyền thông tập trung giới thiệu về hội nhập kinh tế, phát triển và cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu. Đây là một dịp để các doanh nghiệp và xã hội nâng cao nhận thức về những cơ hội, thách thức và áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp cũng như tầm quan trọng của việc phát huy những lợi thế riêng, xây dựng thương hiệu bằng bản sắc riêng. Đây cũng là một dịp tuyên truyền về hội nhập kinh tế thế giới, làm rõ những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam sau 02 năm gia nhập WTO để từ đó nâng cao nhận thức về môi trường cạnh tranh và yêu cầu của việc nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hiệu quả của sự kiện:
- Góp phần tổng kết, đánh giá trên thực tiễn việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách phát triển của Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới và đề xuất một số biện pháp, giải pháp trong điều hành, quản lí nhà nước để tiếp tục phát triển.
- Góp phần giúp doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được các cơ hội, đứng vững được trước thử thách của hội nhập kinh tế, hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới.
- Góp phần giúp phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
|